Kinh Bồ Tát Tạng - giảng giải 1


Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch 《 Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa 》, quyển 324, Phần đầu, phẩm 《 Bồ Tát Trụ 》 thứ 48 :


Lúc ấy, trưởng lão Thiện Hiện bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ ở đâu? Phải trụ như thế nào?” 


Phật bảo: “Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với tất cả hữu tình nên duy trì (trụ) tâm bình đẳng, không nên duy trì (trụ) tâm bất bình đẳng; 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm bình đẳng, không nên khởi tâm thiên lệch; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm bình đẳng mà nói, không nên dùng tâm bất bình đẳng mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại từ, không nên khởi tâm sân hận;  

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại từ mà nói, không nên dùng tâm sân hận mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại bi, không nên khởi tâm làm hại; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại bi mà nói, không nên dùng tâm làm hại mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại hỷ, không nên khởi tâm ganh tỵ; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại hỷ mà nói, không nên dùng tâm ganh tỵ mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại xả, không nên khởi tâm thiên vị (không công bằng); 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại xả mà nói, không nên dùng tâm thiên vị mà nói.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cung kính, không nên khởi tâm kiêu mạn; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm cung kính mà nói, không nên dùng tâm kiêu mạn mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm ngay thẳng, chân thật, không nên khởi tâm nịnh hót, lừa dối;  

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm ngay thẳng, chân thật mà nói, không nên dùng tâm nịnh hót, lừa dối mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm mềm mại, nhu hòa, không nên khởi tâm cứng rắn, ngoan cố;  

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm mềm mại, nhu hòa mà nói, không nên dùng tâm cứng rắn, ngoan cố mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm lợi ích, không nên khởi tâm không lợi ích; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm lợi ích mà nói, không nên dùng tâm không lợi ích mà nói. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm an lạc, không nên khởi tâm không an lạc; 

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm an lạc mà nói, không nên dùng tâm không an lạc mà nói.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm vô ngại, không nên khởi tâm hữu ngại;  

Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm vô ngại mà nói, không nên dùng tâm hữu ngại mà nói. 

Tâm vô ngại = tâm rộng mở, không bị giới hạn bởi ngã chấp, pháp chấp, không bị ngăn trở bởi tham, sân, si. Bồ Tát thực hành tâm vô ngại để đối xử bình đẳng với tất cả hữu tình, không phân biệt thân sơ, bạn thù, và không bị ràng buộc bởi điều kiện. Đối lập với nó là tâm có chướng ngại, bị hạn chế, ngăn trở bởi phân biệt, hay phiền não. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như cha mẹ, như anh em, như chị em, như nam nữ, như thân tộc, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bạn bè, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như thầy dạy, như bậc mô phạm, như đệ tử, như đồng học, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bậc Độc giác, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như Bồ Tát Ma-ha-tát, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng giác, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cung kính, tôn trọng, ca ngợi, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cứu giúp, thương xót, che chở, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm về tính không tuyệt đối của tất cả các pháp, vô sở hữu, bất khả đắc, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ. 

Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm về tính không, vô tướng, vô nguyện, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.  


Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên duy trì (trụ) những tâm như vậy.”




Khai phủ Nghi đồng Tam ti, Đặc tiến, Thí Hồng Lư Khanh, Tước Túc Quốc Công, thực ấp ba nghìn hộ, ban áo tím, truy tặng chức Tư Không, thụy hiệu Đại Giám, chính hiệu Đại Quảng Trí, chùa Đại Hưng Thiện, Tam tạng sa môn Bất Không phụng chiếu dịch《Kinh Đại Tập Đại Hư Không Tạng Bồ Tát Sở Vấn》, quyển 3: 


“Thiện nam tử! Thế nào là Bồ Tát đạt được thực hành pháp Đà-la-ni không quên mất? Thiện nam tử! Bồ Tát nên tu tập và duy trì phương pháp thực hành Đà-la-ni này. Thế nào là tu trì? Thiện nam tử! Có ba mươi hai loại thực hành pháp Đà-la-ni, đó là:  

vì cầu pháp; vì yêu thích pháp; vì yêu thích pháp uyển; 

vì thuận theo dòng chảy của pháp (sự vận hành liên tục của giáo pháp trong quá trình truyền bá); 

vì tùy thuận theo pháp (không làm trái ngược với chân lý và lời dạy của Đức Phật, hành động, tư duy, lời nói đều phù hợp với pháp); 

vì tôn trọng pháp thượng; vì phụng sự (phục vụ), cúng dường bậc đa văn; 

vì thường đối với Hòa thượng và A-xà-lê không có ngã mạn, cung kính cúng dường; 

vì cầu pháp không biết chán; 

vì đối với người dạy pháp luôn tùy thuận, không trái nghịch;  

vì đối với người thuyết pháp kính yêu như Phật, không tìm lỗi họ; 

vì đối với pháp đã nghe đều thọ trì (nghe học và ghi nhớ); không giải đãi; 

vì không bỏn sẻn đối với pháp (phải rộng rãi chia sẻ, truyền dạy cho người khác, không giữ riêng kiến thức, không giấu pháp để cầu lợi cho mình); 

vì hành pháp bố thí không mong cầu; 

vì đối với pháp đã nghe, suy xét đúng đắn, hợp lý, có hệ thống [1]

vì đối với pháp đã nghe, khéo quan sát; 

vì cầu đa văn không hạn lượng; 

vì thường tu phạm hạnh không gián đoạn;  

vì thường ưa xa lìa, tâm tịch tĩnh;  

vì thường siêng tu sáu pháp tùy niệm (sáu pháp tùy niệm = ghi nhớ và nghĩ về những phẩm chất của sáu đối tượng: Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên); 

vì thường bỏ sáu pháp nhiễm ô (sáu pháp nhiễm ô: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến);  

vì thường không bỏ sáu pháp hòa kính [2] (sáu pháp hòa hợp và kính trọng trong Tăng đoàn, nền tảng cho sự hòa thuận trong cộng đồng tu học.); 

vì đối với tất cả hữu tình khởi tâm vô ngại; 

vì thực hành, thuận theo, chấp nhận đối với các pháp do nhân duyên sinh (chấp nhận thực tướng, vô thường, vô ngã, nhẫn thuận với pháp duyên sinh, không chấp ngã, không chấp pháp); 

vì đối với ba môn giải thoát, nên suy xét đúng đắn, quan sát, không kinh sợ; 

vì không bỏ hạt giống của bậc giác ngộ (hạt giống là các nhân tố dẫn đến giác ngộ, các thiện căn, công đức, pháp tu làm nhân để chứng đắc Thánh quả), công đức Đầu-đà; 

vì hộ trì chánh pháp, tâm không hạ liệt; 

vì quan sát chúng sinh khởi đại bi; 

vì cầu chánh pháp không tiếc thân mạng; 

vì tu hạnh đại trí, lìa ngu si; 

vì giúp cho hữu tình hoàn thành viên mãn (giúp cho chúng sinh đạt được lợi ích, công đức, và giác ngộ), không mệt mỏi. 


Như vậy gọi là ‘tu pháp Đà-la-ni không quên mất’.” 




Ghi chú:

[1] 如理意 = yoniso-manasikāra = suy xét đúng đắn, hợp lý, có hệ thống.


Theo sách Buddhadhamma - The Laws of Nature and Their Benefits to Life, Chương 15, Bhikkhu P. A. Payutto giải thích như sau:


Trang 1417:

Suy xét đúng đắn (yoniso-manasikāra); những phương thức tư duy khéo léo; tư duy có hệ thống; khả năng suy xét và phân biệt sự vật theo đúng thực tại của chúng, chẳng hạn như nhận ra rằng một hiện tượng tồn tại đúng như vậy. Người thực hành tìm kiếm nguyên nhân và điều kiện, truy xét nguồn gốc sự vật, lần theo toàn bộ tiến trình sự kiện, và phân tích để thấy sự vật đúng như chúng là, phù hợp với quy luật nhân quả. Người ấy không bám víu hay bóp méo sự thật vì tham ái và chấp thủ cá nhân. Suy xét đúng đắn dẫn đến an lạc và khả năng giải quyết vấn đề. Đây là một yếu tố nội tâm, mang tính tinh thần, và có thể được gọi là “con đường trí tuệ”.


Trang 1314:

Yoniso-manasikāra: suy xét đúng đắn; suy tư phân tích; sự chú tâm có lý trí và có hệ thống. Đó là khả năng biết cách suy xét sự vật một cách khách quan, vận dụng tư duy hợp lý, truy xét nguồn gốc sự vật, lần theo toàn bộ tiến trình của hiện tượng, và phân tích một đối tượng hoặc vấn đề để thấy nó đúng với sự thật và theo mối quan hệ nhân duyên, mà không để tham ái hay chấp thủ cá nhân xen vào. Đây là một yếu tố nội tâm, mang tính tinh thần. Nó có thể được gọi là con đường trí tuệ (paññā).



https://buddhadhamma.github.io/



[2] sáu pháp hòa hợp gồm:

Thân hòa đồng trụ: sống chung hòa thuận, không tranh chấp. 

Khẩu hòa vô tránh: lời nói hòa nhã, không cãi vã. 

Ý hòa đồng duyệt: tâm ý vui vẻ, không ganh ghét. 

Giới hòa đồng tu: cùng giữ giới luật thanh tịnh. 

Kiến hòa đồng giải: cùng hiểu biết, chia sẻ quan điểm đúng pháp. 

Lợi hòa đồng quân: chia sẻ lợi ích công bằng, không thiên vị. 




Mục lục 《Kinh Bồ Tát Tạng》


1)

Sa-môn Thích Tăng Hựu biên soạnXuất Tam Tạng Ký Tập(ghi chép về việc dịch Tam Tạng), quyển thứ hai, phần 《Mục lục mới tập hợp các kinh, luật, luận

Kinh Bồ Tát Tạng ba quyển, còn gọi là Phú-lâu-na vấn, cũng gọi là Đại Bi Tâm. Hoặc làm hai quyển. … Phía bên phải gồm 35 bộ, tất cả 294 quyển. Vào thời Tấn An Đế, sa-môn người Thiên Trúc là Cưu-ma-la-thập đến Trường An, dịch tại Đại Tự và Tiêu Dao Viên, từ năm thứ ba niên hiệu Hoằng Thỉ của hoàng đế Diêu Hưng nước Hậu Tần (thời kỳ Thập Lục Quốc).”



2)

Sa-môn Pháp Kinh và các vị khác đời Tùy biên soạn 

Mục Lục Các Kinh quyển thứ nhất, phần Mục lục Đại thừa Tu-đa-la Tạng (1) – phần các kinh chỉ có một bản dịch duy nhất》: Kinh Bồ Tát Tạngba quyển, do La-thập dịch vào năm Hoằng Thỉ đời Hậu Tần.”

Mục Lục Các Kinh quyển thứ hai – Các kinh biệt sinhKinh Đầy Đủ Thiện Cănmột quyển. Phía bên phải của một kinh này dịch từ Kinh Bồ Tát Tạngquyển hạ.”

Mục Lục Các Kinh quyển thứ năm – Mục lục Đại thừa Tỳ-ni Tạng (2) – phần các luật chỉ có một bản dịchKinh Bồ Tát Tạngmột quyển, do sa-môn Tăng-già-bà-la (Sanghapāla) dịch tại Dương Châu vào năm Thiên Giám đời Lương.” 

 

Ghi chú:

(1) Tu-đa-la Tạng = Tạng Kinh

(2) Tỳ-ni Tạng = Tạng Luật  



3)

Sa-môn Diên Tông đời Tùy biên soạn 

Mục Lục Các Kinh quyển thứ nhất, phần Đơn bản – Đại thừa kinh đơn bảnKinh Bồ Tát Tạng ba quyển, do La-thập dịch vào năm Hoằng Thỉ đời Hậu Tần.”

Mục Lục Các Kinh quyển thứ nhất, phần Đơn bản  Đại thừa luật đơn bảnKinh Bồ Tát Tạngmột quyển, do sa-môn Tăng-già-bà-la dịch tại Dương Châu vào năm Thiên Giám đời Lương.”

Mục Lục Các Kinh quyển thứ ba, phần Biệt sinh  Đại thừa biệt sinhKinh Đầy Đủ Thiện Cănmột quyển. Phía bên phải của một kinh này dịch từ Kinh Bồ Tát Tạngquyển hạ.”



4)

Sa-môn Tĩnh Thái đời Đường biên soạn 

Mục Lục Các Kinh quyển thứ nhất, phần Đơn bản – Đại thừa kinh đơn bản

Kinh Pháp Cự Đà-la-ni20 quyển, 300 tờ. Vào năm Đại Nghiệp đời Tùy, do ngài Đạt-ma Cấp-đa dịch tại Thượng Lâm Viên ở Đông Kinh, được tiến hành theo chiếu chỉ của triều đình. (Pháp Cự = Ngọn đuốc của Pháp)

Kinh Đại Bồ Tát Tạng》 20 quyển, 410 tờ. Vào năm Trinh Quán, do ngài Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc.

《Kinh Bồ Tát Anh Lạc》 12 quyển, 330 tờ. Hoặc 14 quyển. Vào năm Kiến Nguyên đời Tiền Tần, do ngài Trúc Phật Niệm dịch tại Trường An. …

《Kinh Xưng Dương Công Đức Chư Phật》 3 quyển, 55 tờ. Vào năm Hoằng Thỉ đời Hậu Tần, do ngài La-thập dịch.

Kinh Bồ Tát Tạng》 3 quyển, 61 tờ. Vào năm Hoằng Thỉ đời Hậu Tần, do ngài La-thập dịch.

《Kinh Lực Trang Nghiêm Tam-muội》 3 quyển, 36 tờ. Vào năm Khai Hoàng đời Tùy, do ngài Da-xá dịch.

 Mục Lục Các Kinh quyển thứ nhất, phần Đơn bản – Đại thừa luật đơn bảnKinh Bồ Tát Tạng 1 quyển, 9 tờ. Vào năm Thiên Giám đời Lương, do sa-môn Tăng-già-bà-la dịch tại Dương Châu.”



Sa-môn Đạo Tuyên ở chùa Tây Minh tại kinh sư đời Đường biên soạn Đại Đường Nội Điển Lục


Sa-môn phiên dịch kinh Thích Tĩnh Mại đời Đường biên soạn Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Ký

 

Sa-môn Minh Thuyên cùng các vị khác ở chùa Phật Thọ Ký, theo chiếu chỉ của Thiên Hậu đời Đường biên soạn Đại Chu San Định Chúng Kinh Mục Lục



5)

Chùa Sùng Phúc, sa-môn Trí Thăng biên soạn 

Khai Nguyên Thích Giáo Lục, quyển thứ hai, phần《Mục Lục Tổng Quát Các Kinh - Tây Tấn

Kinh Bồ Tát Tạng ba quyển, bản dịch đầu tiên. Xem trong Mục Lục Trường Phòng.”

【Liệt kê vào nhóm thiếu bản gốc trong bản dịch của Pháp Hộ.】


☞ Năm Khai Hoàng thứ mười bảy, học sĩ dịch kinh là Phí Trường Phòng dâng Lịch Đại Tam Bảo Ký, quyển thứ sáu – kinh dịch vào thời Tây Tấn:

Kinh Siêu Nhật Minh Tam-muội ba quyển, dịch vào tháng Giêng năm Thái Thỉ thứ bảy. Bản dịch đầu tiên. Hoặc hai quyển. Hoặc chỉ gọi là Kinh Siêu Nhật Minh. Xem trong 《Mục Lục của Nhiếp Đạo Chân.

Kinh Bồ Tát Tạng ba quyển 

Kinh Chư Thần Chú ba quyển 

Kinh Bảo Kế Bồ Tát Sở Vấn hai quyển, dịch ngày 14 tháng 7 niên hiệu Thái Tây. Đại Tập có một kinh gọi là Kinh Bồ Tát Tịnh Hạnh. Mục lục cũ gọi là Kinh Bảo KếXem trong Mục Lục của Nhiếp Đạo Chân.”



Khai Nguyên Thích Giáo Lục, quyển thứ tư – phần 《Mục Lục Tổng Quát Các Kinh - Diêu Tần:

Kinh Bồ Tát Tạng ba quyển, còn gọi là Kinh Phú-lâu-na Vấn, cũng gọi là Kinh Đại Bi Tâm. Nay biên tập vào Bảo Tích, thuộc hội thứ mười bảy, tên là Hội Phú-lâu-na. Dịch năm Hoằng Thỉ thứ bảy. Hoặc có hai quyển. Bản dịch thứ hai, cùng bản gốc với bản dịch của Pháp Hộ. Xem trong Mục lục Nhị Tầnvà 《Mục Lục của Tăng Hựu.”

【Liệt kê vào nhóm có bản gốc trong bản dịch của Cưu-ma-la-thập.】

 

 

《Khai Nguyên Thích Giáo Lục》, quyển thứ sáu – phần《Mục lục Tổng Quát Các Kinh - Lương

Kinh Bồ Tát Tạngmột quyển.”

【Liệt kê vào nhóm có bản gốc trong bản dịch của Tăng-già-bà-la.】



《Khai Nguyên Thích Giáo Lục》, quyển thứ tám – 《Mục lục Tổng Quát Các Kinh - Đại Đường:

Kinh Đại Bồ Tát Tạnghai mươi quyển, xem trong Nội Điển Lục. Nay biên tập vào Bảo Tích, thuộc hội thứ mười hai. Dịch tại Viện Dịch Kinh chùa Hoằng Phúc ở Tây Kinh, từ ngày 2 tháng 5 năm Trinh Quán thứ 19 đến ngày 2 tháng 9 hoàn tất. Sa-môn Trí Chứng ghi chép, Đạo Tuyên chứng văn.” (3)

【Liệt kê vào các bản dịch của Huyền Trang.】


“…Khởi dịch Kinh Đại Bồ Tát Tạng. Sa-môn Đạo Tuyên ghi chép, đồng thời chỉnh sửa và sắp xếp câu từ, ý nghĩa. … Và Hoàng đế đọc Kinh Bồ Tát Tạng do pháp sư dâng lên. Ngài khen ngợi, nên ra chiếu chỉ cho Xuân cung (Đông Cung thái tử) viết lời tựa ở cuối cho kinh.”


Ghi chú:

(3)

筆受 (bút thụ): nghĩa là ghi chép bằng bút, tức người đảm nhiệm việc viết lại văn bản dịch ra giấy theo lời đọc của dịch giả. Đây là vai trò “thư ký” trong nhóm dịch kinh.

證文 (chứng văn): nghĩa là xác nhận văn bản, tức người kiểm chứng, đối chiếu và xác nhận tính chính xác của bản dịch (thường là một vị cao tăng hoặc học giả giám sát).

證義 (chứng nghĩa): Người kiểm tra và xác nhận ý nghĩa của bản dịch, đảm bảo nội dung dịch đúng với nguyên bản, không sai lệch về giáo lý. Họ thường là các cao tăng thông hiểu cả ngôn ngữ gốc (Phạn) và Hán, hoặc ít nhất am tường giáo lý để đối chiếu.

Trong một nhóm dịch kinh thời Đường, cơ cấu thường gồm:

1. Dịch chủ: Người trực tiếp dịch từ Phạn sang Hán (ví dụ: Huyền Trang, Cưu-ma-la-thập).

2. Bút thụ: Người ghi chép theo lời dịch.

3. Chứng nghĩa: Kiểm tra ý nghĩa, đối chiếu với nguyên bản.

4. Chứng văn: Kiểm tra văn phong, xác nhận bản dịch cuối cùng.



《Khai Nguyên Thích Giáo Lục》, quyển thứ mười một – phần Mục lục phân loại kinh theo thừa (Đại thừa, Tiểu thừa) và theo tạng (Kinh, Luật, Luận) - Mục lục kinh có bản dịch và có bản gốc - Mục lục Bồ Tát Tam Tạng - Kinh Đại thừa trùng dịch, đơn dịch, hợp dịch (4) - Bộ Bảo Tích:

“ Mục thứ mười hai: Hội Bồ Tát Tạng hai mươi quyển

Do Tam Tạng Huyền Trang đời Đại Đường dịch. Trích từ Nội Điển Lục. Sau khi xem xét đối chiếu thấy giống nên biên tập vào chung.

Phía bên phải là bản dịch cũ đời Đường - bản đơn dịch, từ quyển thứ 35 đến 54. bản dịchHội Bồ Tát Tạng》này , theo 《Mục Lục Đại Chuxếp vào nhóm trùng dịch (bản dịch lại), nói rằng: “Cùng bản gốc với ba quyển Kinh Bồ Tát Tạng, chỉ khác bản dịch” – là sự nhầm lẫn rất lớn! Tên gọi tuy giống, nhưng số lượng hoàn toàn khác. Kiểm tra văn nghĩa, lại càng sai biệt. Ba quyển Kinh Bồ Tát Tạng cũng biên tập vào đây, tức là Hội Phú-lâu-na. Nay sửa cách phân loại cũ, xem là bản đơn dịch. …


Mục thứ mười bảy: Hội Phú-lâu-na ba quyển

Do Tam Tạng Cưu-ma-la-thập đời Diêu Tần dịch. Đây là bản dịch thứ hai. Sau khi xem xét đối chiếu thấy giống nên biên tập vào chung.

Phía bên phải là bản dịch cũ - trùng dịch (bản dịch lại). Tên gốc là Kinh Bồ Tát Tạng, cũng gọi là Kinh Đại Bi Tâm, cùng bản với Kinh Bồ Tát Tạngdo Trúc Pháp Hộ dịch đời Tây Tấn, cùng bản gốc nhưng khác bản dịch. Từ quyển thứ 77 đến 79. Bản dịch đời Tấn bị thiếu bản gốc.


Ghi chú:

(4)

重譯 trùng dịchCùng một kinh nhưng có nhiều bản dịch khác nhau (dịch lặp lại).

單譯 đơn dịchKinh chỉ có một bản dịch duy nhất, không có bản khác.

合譯 hợp dịchBản dịch kết hợp nhiều bản gốc hoặc nhiều phần (nhiều hội) của một bộ kinh lớn để dịch thành một bản thống nhất (Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Đại Tập).

別生 biệt sinh: Kinh phát sinh riêng từ một phần của kinh lớn, hoặc trích xuất từ một hội trong bộ kinh.



《Khai Nguyên Thích Giáo Lục》, quyển thứ mười chín – phần đầuNhập Tạng Lục

《Đại thừa nhập tạng lục - Đại thừa luật》:

Kinh Bồ Tát Tạngmột quyển, mười tờ.”



6)

《Đại Chánh Tạng》, tập thứ 11 – Bộ Bảo Tích

Số 310: Kinh Đại Bảo Tích, từ quyển thứ 35 đến quyển thứ 54.

Do Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang đời Đại Đường phụng chiếu dịch, Hội Bồ Tát Tạnghội thứ 12.


《Đại Chánh Tạng》, tập thứ 11 – Bộ Bảo Tích

Số 316: Do Tam Tạng dịch kinh Tây Thiên, chức Triều Tán Đại Phu, Thí Quang Lộc Khanh, Đại Sư truyền dịch Phạn kinh, được ban áo tím, sa-môn thần Pháp Hộ cùng các vị khác phụng chiếu dịch, Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp.


《Đại Chánh Tạng》, tập thứ 11 – Bộ Bảo Tích

Số 310: Kinh Đại Bảo Tích, từ quyển thứ 77 đến quyển thứ 79.

Do Tam Tạng Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch, Hội Phú-lâu-na, hội thứ 17.


《Đại Chánh Tạng》, tập thứ 24 – Bộ Luật

Số 1491: Do Tam Tạng Tăng-già-bà-la đời Lương (người gốc Phù Nam) dịch, Kinh Bồ Tát Tạng.



7)

Sa-môn Trí Húc ở Bắc Thiên Mục biên tập 

Duyệt Tạng Tri Tân quyển thứ hai – phần 《Kinh Tạng Đại thừa - Bộ Phương Đẳngphần một của mục thứ hai Kinh Đại Bảo Tích.

“ Hội Bồ Tát Tạng thứ mười hai, hai mươi quyển, do Huyền Trang dịch.

Phẩm Khai Hóa Trưởng Giảthứ nhất:

Phật ở nước Xá-vệ an cư xong, đi đến nước Ma-kiệt-đà, lên núi Linh Thứu. Năm trăm vị trưởng giả như Hiền Thủ gặp Phật trên đường, tán thán tướng tốt, hỏi nhân duyên xuất gia. Phật đáp: vì quán sát chúng sinh có mười khổ, mười não, mười rừng rậm, mười mũi tên độc, mười ái, mười tà, mười nghiệp bất thiện, mười pháp nhiễm ô, mười thứ trói buộc nên xuất gia. Các trưởng giả nói kệ, nguyện nghe diệu pháp. Phật rộng nói các pháp như căn, trần, uẩn, giới, nhân duyên… đều vô ngã, không thật. Các trưởng giả được pháp nhãn thanh tịnh. Kế đó nói về “Tất cả đều rực cháy (5), các trưởng giả liền được thọ giới (thọ nhận giới luật), chứng A-la-hán.

(5): chỉ mọi pháp hữu vi trong luân hồi đều như lửa cháy, bị thiêu đốt bởi lửa tham, sân, si.


Phẩm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký thứ hai:

Hộ thành Dược-xoa tên Kim Tỳ La dâng cúng Phật, các thần đều cúng Tăng. Phật thọ ký cho Kim Tỳ La về đạo vô thượng. Kim Tỳ La trang nghiêm đường đi, theo Phật đến núi Linh Thứu. Phật bảo A-nan trải pháp tòa lớn, bảo Mục-kiền-liên tập hợp các Tỳ-kheo – Đại Ca-diếp và các vị – cùng đến pháp hội.


Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát thứ ba:

Xá-lợi-phất hỏi pháp Bồ Tát, Phật đáp về tâm Bồ-đề và đầy đủ tín, dục.

Phẩm Như Lai Bất Tư Nghị Tính thứ tư:

Giảng rõ mười pháp bất khả tư nghị của Như Lai:

  1. Thân bất tư nghị
  2. Âm thanh bất tư nghị
  3. Trí
  4. Quang
  5. Giới và các pháp thiền
  6. Thần thông
  7. Lực
  8. Vô úy
  9. Đại bi
  10. Pháp bất cộng của Phật (6)


Ghi chú:

(6) pháp công đức chỉ riêng Phật mới có, không chung với các vị Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát.


Phẩm Tứ Vô Lượng thứ năm:

Thuật lại việc quá khứ, Như Lai Đại Uẩn vì thái tử Tinh Tấn Hành mà nói về bốn Ba-la-mật lớn như đại từ,...


Phẩm Đà-na Ba-la-mật-đa thứ sáu:

Giảng rõ 50 hạnh thanh tịnh về bố thí, 30 công đức thù thắng.

陀那 Đà-na = phiên âm từ dāna, bố thí.


Phẩm Thi Ba-la-mật-đa thứ bảy:

Giảng ba hạnh vi diệu của thân, khẩu, ý; mười tâm cực sâu nặng, mười phát tâm; được pháp thắng xứ ở nhân gian và thiên thượng; rồi nói 50 giới thanh tịnh; kể về thời chư Phật quá khứ có Bồ Tát Đắc Niệm thường tu phạm hạnh, thành Phật tên Sa-la Vương; nói Bồ Tát giữ giới thanh tịnh, khởi tưởng cha mẹ đối với chúng sinh, khiển trách, phê phán những sai lầm do tham dục gây ra.

尸波密多 Thi Ba-la-mật-đa = phiên âm từ Phạn ngữ Śīla Pāramitā, Giới Ba-la-mật.


Phẩm Sằn-để Ba-la-mật-đa thứ tám:

Giảng rõ nhẫn rốt ráo và nhẫn không rốt ráo.

羼底 Sằn-để = phiên âm từ Phạn ngữ kṣānti, nhẫn nhục.


Phẩm Tỳ-lê-da Ba-la-mật-đa thứ chín:

Giảng mười pháp chướng ngại không nên thuận theo, phải siêng năng tinh tấn thọ trì và tuyên giảng kinh này, cùng ba nghiệp tinh tấn. Nói rõ năm pháp tổn giảm của Bồ Tát tại gia và xuất gia. Tiếp theo, nói về hạnh tinh tấn của đồng tử Luật Nghi trong quá khứ và hạnh tinh tấn của Tỳ-kheo Pháp Hạnh.

毘利耶 Tỳ-lê-da = phiên âm từ Phạn ngữ vīrya, tinh tấn


Phẩm Tĩnh Lự Ba-la-mật-đa (thứ mười):

Giảng Bồ Tát y cứ theo bốn thiền (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền) để phát sinh năm thông (thần túc, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng), vượt hơn hai thừa (Thanh Văn, Duyên Giác), chứng các đại định (Kim Cang Tam-muội, Sư Tử Phấn Tấn Tam-muội, Pháp Hoa Tam-muội).

慮 Tĩnh Lự = tĩnh tâm suy xét, là dịch nghĩa từ Phạn ngữ jhāna, phiên âm tiếng Hán của jhāna là 禪那 Thiền-na.


Phẩm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thứ mười một:

Trước nói 41 pháp về các tướng hướng về đa văn trí tuệ, các tướng của việc lắng nghe học hỏi, ghi nhớ, hiểu rõ ý nghĩa và thực hành chánh hạnh (ví dụ: lấy lắng nghe học hỏi không mệt mỏi làm tướng, lắng nghe học hỏi chánh nghĩa, chánh pháp, chánh hạnh làm tướng, lắng nghe học hỏi Ba la mật, Bồ Tát tạng làm tướng,...), rồi nói khởi chánh hạnh tướng, rồi nói tác ý như lý và khéo léo (7), như lý chứng nhập, như lý quán. Sau lại rộng nói mười thiện xảo (mười phương tiện khéo léo để thực hành Bát-nhã), nói về diệu tuệ và nghĩa đến bờ kia, rồi nói 50 loại công đức (công đức xưng tán lợi ích của người thực hành Bát-nhã Ba-la-mật-đa).


Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký thứ mười hai:

Kết lại việc Như Lai Đại Uẩn vì đồng tử Tinh Tấn Hành rộng nói bốn vô lượng tâm và sáu độ (sáu ba la mật), lại nói bốn nhiếp pháp nhưng chưa thọ ký Bồ-đề. Sau gặp Phật Bảo Tính, đổi tên là Thiện Huệ Trưởng Giả, vẫn chưa được ký. Lại gặp Phật Phóng Quang, đổi tên là đồng tử Mi-ca-như, rải hoa, bỏ tóc, mới được thọ ký, chứng vô sinh nhẫn – đều là chuyện bản sinh (tiền kiếp) của Phật Thích-ca. Khi ấy, trưởng giả Na-la-đạt-đa phát tâm Đại thừa, cùng vợ con, quyến thuộc, nhạc công và mười ngàn dân trong thành rộng rãi phát khởi cúng dường, lập thệ nguyện Đại thừa. Phật tạo thần thông biến hóa lớn, thọ ký ba thừa và khuyên thọ trì.


Ghi chú: 

(7) tác ý như lý và khéo léo = 如理方便作意 (yoniso-manasikāra): suy xét đúng đắn, hợp lý, có hệ thống, và khéo léo.








Analysis of Mettā Sutta

The Analysis of Mettā Sutta Analyst: Professor  Friedrich Grohmann  ( 高明道 教授) Translator: Sophie Verses 01-02: पदं (होति)। padaṃ (hoti)| T...