Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch 《 Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa 》, quyển 324, Phần đầu, phẩm 《 Bồ Tát Trụ 》 thứ 48 :
Lúc ấy, trưởng lão Thiện Hiện bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ ở đâu? Phải trụ như thế nào?”
Phật bảo: “Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với tất cả hữu tình nên duy trì (trụ) tâm bình đẳng, không nên duy trì (trụ) tâm bất bình đẳng;
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm bình đẳng, không nên khởi tâm thiên lệch;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm bình đẳng mà nói, không nên dùng tâm bất bình đẳng mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại từ, không nên khởi tâm sân hận;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại từ mà nói, không nên dùng tâm sân hận mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại bi, không nên khởi tâm làm hại;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại bi mà nói, không nên dùng tâm làm hại mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại hỷ, không nên khởi tâm ganh tỵ;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại hỷ mà nói, không nên dùng tâm ganh tỵ mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm đại xả, không nên khởi tâm thiên vị (không công bằng);
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm đại xả mà nói, không nên dùng tâm thiên vị mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cung kính, không nên khởi tâm kiêu mạn;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm cung kính mà nói, không nên dùng tâm kiêu mạn mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm ngay thẳng, chân thật, không nên khởi tâm nịnh hót, lừa dối;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm ngay thẳng, chân thật mà nói, không nên dùng tâm nịnh hót, lừa dối mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm mềm mại, nhu hòa, không nên khởi tâm cứng rắn, ngoan cố;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm mềm mại, nhu hòa mà nói, không nên dùng tâm cứng rắn, ngoan cố mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm lợi ích, không nên khởi tâm không lợi ích;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm lợi ích mà nói, không nên dùng tâm không lợi ích mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm an lạc, không nên khởi tâm không an lạc;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm an lạc mà nói, không nên dùng tâm không an lạc mà nói.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm vô ngại, không nên khởi tâm hữu ngại;
Đối với tất cả hữu tình nên dùng tâm vô ngại mà nói, không nên dùng tâm hữu ngại mà nói.
Tâm vô ngại = tâm rộng mở, không bị giới hạn bởi ngã chấp, pháp chấp, không bị ngăn trở bởi tham, sân, si. Bồ Tát thực hành tâm vô ngại để đối xử bình đẳng với tất cả hữu tình, không phân biệt thân sơ, bạn thù, và không bị ràng buộc bởi điều kiện. Đối lập với nó là tâm có chướng ngại, bị hạn chế, ngăn trở bởi phân biệt, hay phiền não.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như cha mẹ, như anh em, như chị em, như nam nữ, như thân tộc, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bạn bè, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như thầy dạy, như bậc mô phạm, như đệ tử, như đồng học, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như bậc Độc giác, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như Bồ Tát Ma-ha-tát, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm như Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng giác, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cung kính, tôn trọng, ca ngợi, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm cứu giúp, thương xót, che chở, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm về tính không tuyệt đối của tất cả các pháp, vô sở hữu, bất khả đắc, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Đối với tất cả hữu tình nên khởi tâm về tính không, vô tướng, vô nguyện, cũng nên dùng tâm ấy mà nói với họ.
Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma-ha-tát muốn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên duy trì (trụ) những tâm như vậy.”
Khai phủ Nghi đồng Tam ti, Đặc tiến, Thí Hồng Lư Khanh, Tước Túc Quốc Công, thực ấp ba nghìn hộ, ban áo tím, truy tặng chức Tư Không, thụy hiệu Đại Giám, chính hiệu Đại Quảng Trí, chùa Đại Hưng Thiện, Tam tạng sa môn Bất Không phụng chiếu dịch《Kinh Đại Tập Đại Hư Không Tạng Bồ Tát Sở Vấn》, quyển 3:
“Thiện nam tử! Thế nào là Bồ Tát đạt được thực hành pháp Đà-la-ni không quên mất? Thiện nam tử! Bồ Tát nên tu tập và duy trì phương pháp thực hành Đà-la-ni này. Thế nào là tu trì? Thiện nam tử! Có ba mươi hai loại thực hành pháp Đà-la-ni, đó là:
vì cầu pháp; vì yêu thích pháp; vì yêu thích pháp uyển;
vì thuận theo dòng chảy của pháp (sự vận hành liên tục của giáo pháp trong quá trình truyền bá);
vì tùy thuận theo pháp (không làm trái ngược với chân lý và lời dạy của Đức Phật, hành động, tư duy, lời nói đều phù hợp với pháp);
vì tôn trọng pháp thượng; vì phụng sự (phục vụ), cúng dường bậc đa văn;
vì thường đối với Hòa thượng và A-xà-lê không có ngã mạn, cung kính cúng dường;
vì cầu pháp không biết chán;
vì đối với người dạy pháp luôn tùy thuận, không trái nghịch;
vì đối với người thuyết pháp kính yêu như Phật, không tìm lỗi họ;
vì đối với pháp đã nghe đều thọ trì (nghe học và ghi nhớ); không giải đãi;
vì không bỏn sẻn đối với pháp (phải rộng rãi chia sẻ, truyền dạy cho người khác, không giữ riêng kiến thức, không giấu pháp để cầu lợi cho mình);
vì hành pháp bố thí không mong cầu;
vì đối với pháp đã nghe, suy xét đúng đắn, hợp lý, có hệ thống [1];
vì đối với pháp đã nghe, khéo quan sát;
vì cầu đa văn không hạn lượng;
vì thường tu phạm hạnh không gián đoạn;
vì thường ưa xa lìa, tâm tịch tĩnh;
vì thường siêng tu sáu pháp tùy niệm (sáu pháp tùy niệm = ghi nhớ và nghĩ về những phẩm chất của sáu đối tượng: Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên);
vì thường bỏ sáu pháp nhiễm ô (sáu pháp nhiễm ô: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến);
vì thường không bỏ sáu pháp hòa kính [2] (sáu pháp hòa hợp và kính trọng trong Tăng đoàn, nền tảng cho sự hòa thuận trong cộng đồng tu học.);
vì đối với tất cả hữu tình khởi tâm vô ngại;
vì thực hành, thuận theo, chấp nhận đối với các pháp do nhân duyên sinh (chấp nhận thực tướng, vô thường, vô ngã, nhẫn thuận với pháp duyên sinh, không chấp ngã, không chấp pháp);
vì đối với ba môn giải thoát, nên suy xét đúng đắn, quan sát, không kinh sợ;
vì không bỏ hạt giống của bậc giác ngộ (hạt giống là các nhân tố dẫn đến giác ngộ, các thiện căn, công đức, pháp tu làm nhân để chứng đắc Thánh quả), công đức Đầu-đà;
vì hộ trì chánh pháp, tâm không hạ liệt;
vì quan sát chúng sinh khởi đại bi;
vì cầu chánh pháp không tiếc thân mạng;
vì tu hạnh đại trí, lìa ngu si;
vì giúp cho hữu tình hoàn thành viên mãn (giúp cho chúng sinh đạt được lợi ích, công đức, và giác ngộ), không mệt mỏi.
Như vậy gọi là ‘tu pháp Đà-la-ni không quên mất’.”
Ghi chú:
[1] 如理作意 = yoniso-manasikāra = suy xét đúng đắn, hợp lý, có hệ thống.
Theo sách Buddhadhamma - The Laws of Nature and Their Benefits to Life, Chương 15, Bhikkhu P. A. Payutto giải thích như sau:
Trang 1417:
Suy xét đúng đắn (yoniso-manasikāra); những phương thức tư duy khéo léo; tư duy có hệ thống; khả năng suy xét và phân biệt sự vật theo đúng thực tại của chúng, chẳng hạn như nhận ra rằng một hiện tượng tồn tại đúng như vậy. Người thực hành tìm kiếm nguyên nhân và điều kiện, truy xét nguồn gốc sự vật, lần theo toàn bộ tiến trình sự kiện, và phân tích để thấy sự vật đúng như chúng là, phù hợp với quy luật nhân quả. Người ấy không bám víu hay bóp méo sự thật vì tham ái và chấp thủ cá nhân. Suy xét đúng đắn dẫn đến an lạc và khả năng giải quyết vấn đề. Đây là một yếu tố nội tâm, mang tính tinh thần, và có thể được gọi là “con đường trí tuệ”.
Trang 1314:
Yoniso-manasikāra: suy xét đúng đắn; suy tư phân tích; sự chú tâm có lý trí và có hệ thống. Đó là khả năng biết cách suy xét sự vật một cách khách quan, vận dụng tư duy hợp lý, truy xét nguồn gốc sự vật, lần theo toàn bộ tiến trình của hiện tượng, và phân tích một đối tượng hoặc vấn đề để thấy nó đúng với sự thật và theo mối quan hệ nhân duyên, mà không để tham ái hay chấp thủ cá nhân xen vào. Đây là một yếu tố nội tâm, mang tính tinh thần. Nó có thể được gọi là con đường trí tuệ (paññā).
https://buddhadhamma.github.io/
Thân hòa đồng trụ: sống chung hòa thuận, không tranh chấp.
Khẩu hòa vô tránh: lời nói hòa nhã, không cãi vã.
Ý hòa đồng duyệt: tâm ý vui vẻ, không ganh ghét.
Giới hòa đồng tu: cùng giữ giới luật thanh tịnh.
Kiến hòa đồng giải: cùng hiểu biết, chia sẻ quan điểm đúng pháp.
Lợi hòa đồng quân: chia sẻ lợi ích công bằng, không thiên vị.

No comments:
Post a Comment