Kinh Tâm Từ - Mettā sutta
Giải thích: Giáo Sư Friedrich Grohmann (高明道教授)
Dịch nghĩa: Sophie
01-02.
करणीयमत्थकुसलेन
यन्तं सन्तं पदं अभिसमेच्च।
सक्को उजू च सूजू
च सुवचो चस्स मुदु अनतिमानी॥
सन्तुस्सको च सुभरो च अप्पकिच्चो च सल्लहुकवुत्ति।
सन्तिन्द्रियो च निपको च अप्पगब्भो कुलेसु अननुगिद्धो॥
karaṇīyamatthakusalena yantaṃ santaṃ padaṃ abhisamecca |sakko ujū ca sūjū ca suvaco cassa mudu anatimānī ||
santindriyo ca nipako ca appagabbho kulesu ananugiddho ||
He should be capable, honest, perfectly upright, receptive to advice, gentle, not arrogant, content, easy to support, with few duties, live simply with few needs, keeping his sense faculties calm and restrained, intelligent, not crude, and not greedy among families (when interacting with families).
Sau khi đã hiểu rằng thật sự có một trạng thái tịch tĩnh (Niết-bàn), người tinh thông những điều có lợi ích và có ý nghĩa, nên tu tập những phẩm chất nhất định.
Người ấy nên có năng lực, trung thực, hoàn toàn ngay thẳng, biết lắng nghe lời khuyên, hiền hòa, không kiêu ngạo, biết đủ (tri túc), dễ hộ trì (dễ hỗ trợ), ít nhiệm vụ, sống đơn giản với ít nhu cầu, giữ các giác quan tĩnh lặng và được điều phục, thông minh (có trí tuệ), không thô lỗ (lỗ mãng), và không tham lam khi tiếp xúc với các gia đình.
03.
न च खुद्दं समाचरे
किञ्चि येन विञ्ञू परे उपवदेय्युं।
सुखिनो वा खेमिनो
होन्तु सब्बे सत्ता भवन्तु सुखितत्ता॥
sukhino vā khemino hontu sabbe sattā bhavantu sukhitattā ||
May all sentient beings truly be happy and safe.
Nguyện cho tất cả chúng sinh thật sự được hạnh phúc và an toàn.
04-05.
ये केचि पाणभूतत्थि
तसा वा थावरा वा अनवसेसा।
दीघा वा ये महन्ता
वा मज्झिमा रस्सकाणुकथूला॥
दिट्ठा वा येव अद्दिट्ठा ये च दूरे वसन्ति अविदूरे।
भूता वा सम्भवेसी वा सब्बे सत्ता भवन्तु सुखितत्ता॥
ye keci pāṇabhūtatthi tasā vā thāvarā vā anavasesā |dīghā vā ye mahantā vā majjhimā rassakāṇukathūlā ||
diṭṭhā vā yeva addiṭṭhā ye ca dūre vasanti avidūre |
06.
न परो परं निकुब्बेथ
नातिमञ्ञेथ कत्थचि नं कञ्चि।
ब्यारोसना पटिघसञ्ञा
नाञ्ञमञ्ञस्स दुक्खमिच्छेय्य॥
byārosanā paṭighasaññā nāññamaññassa dukkhamiccheyya ||
Neither should wish suffering upon the other out of hatred and hostility.
Đừng mong điều đau khổ xảy đến cho nhau vì tâm sân hận và thù địch.
07.
माता यथा नियं
पुत्तं आयुसा एकपुत्तमनुरक्खे।
एवम्पि सब्बभूतेसु
मानसं भावये अपरिमाणं॥
evampi sabbabhūtesu mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ ||
So too should one cultivate the immeasurable mind toward all beings.
Cũng vậy người ấy nên tu tập tâm vô lượng đối với tất cả chúng sinh.
08.
मेत्तञ्च सब्बलोकस्मिं
मानसं भावये अपरिमाणं।
उद्धं अधो च तिरियञ्च
असम्बाधं अवेरं असपत्तं॥
uddhaṃ adho ca tiriyañca asambādhaṃ averaṃ asapattaṃ ||
09.
तिट्ठं चरं निसिन्नो
वा सयानो वा यावतस्स विगतमिद्धो।
एतं सतिं अधिट्ठेय्य
ब्रह्ममेतं विहारं इधमाहु॥
etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya brahmametaṃ vihāraṃ idhamāhu ||
So long as one does not fall into drowsiness (sluggishness, lethargy), whether standing, walking, sitting, or lying down, one should firmly resolve to maintain this clear mind.
This is said to be the most excellent peaceful state attainable in this very life.
Đây được gọi là trạng thái an tịnh tối thượng có thể đạt được ngay trong đời sống hiện tại.
10.
दिट्ठिं च अनुपगम्म
सीलवा दस्सनेन सम्पन्नो।
कामेसु विनेय्य
गेधं न हि जातु गब्भसेय्यं पुनरेति॥
Lược dịch từ bài giảng của Tỳ khưu Bodhi
1) Ý nghĩa của từ Mettā
Từ Pali mettā, mà chúng ta dịch sang tiếng Anh là loving-kindness
(tâm từ ái), bắt nguồn từ một từ khác trong tiếng Pali là mita hoặc
trong tiếng Sanskrit là mitra, có nghĩa là “bạn”. Có lẽ bạn biết cụm từ Kalyāṇa-mitta, nghĩa là một người
bạn tốt, một người bạn tâm linh. Vì vậy, theo nghĩa đen, metta sẽ là
“tình bạn” hay “sự thân thiện”. Nhưng từ “friendliness” (sự thân thiện) trong tiếng
Anh nghe có vẻ quá bình thường, quá đời thường. Nếu ai đó chỉ là một người vui
vẻ, dễ gần, hòa đồng với nhiều người, ta nói người đó có nhiều sự thân thiện.
Nhưng đó không phải là ý nghĩa của metta.
Metta không phải là cảm giác thân thiện thông thường.
Tôi cho rằng đó là một phẩm chất của sự ấm áp và trìu mến đối với người khác, bắt
nguồn từ một sự quan tâm sâu sắc và chân thành đến hạnh phúc và sự an lành của
họ. Vì vậy, nhiều dịch giả thời kỳ đầu (và tôi cũng theo họ) đã dịch metta
là loving-kindness (tâm từ ái), kết hợp hai khía cạnh này.
- Loving
(yêu thương) nhấn mạnh khía cạnh quan tâm và chăm sóc người khác.
- Kindness
(lòng tốt) nhấn mạnh rằng sự quan tâm yêu thương đó phải được thể hiện qua
hành động, thái độ, cách chúng ta đối xử với người khác.
Các văn bản Pali, đặc biệt là các chú giải, có một định
nghĩa chính thức về mettā như sau: đó là mong muốn cho tất cả chúng
sinh được an lành và hạnh phúc. “Tất cả chúng sinh” ở đây không chỉ là người
khác mà còn bao gồm cả bản thân mình. Vì vậy, đó là mong muốn cho bản thân và
người khác được an lành và hạnh phúc.
Có hai khía cạnh được nhấn mạnh: mong muốn sự an lành
(well-being) và mong muốn hạnh phúc (happiness). Cả hai phải đi đôi
với nhau, vì chúng ta không chỉ muốn người khác hạnh phúc theo nghĩa thông thường.
Người ta có thể hạnh phúc theo những cách không lành mạnh, ví dụ như uống rượu,
trụy lạc, cờ bạc, thắng nhiều tiền, hoặc đắm chìm trong các thú vui thế gian.
Ta nói họ hạnh phúc, nhưng đó không phải là loại hạnh phúc mà chúng ta mong muốn
cho họ. Chúng ta mong một loại hạnh phúc lành mạnh, thiện lành. Vì vậy, hạnh
phúc phải đi kèm với sự an lành.
Mong cho người khác được an lành nghĩa là mong họ thoát khỏi
mọi tổn hại và nguy hiểm: thoát khỏi bệnh tật, tai nạn, chấn thương, khỏe mạnh cả
về thân thể lẫn tâm trí (thoát khỏi căng thẳng, lo âu, phiền muộn, giận dữ, hận
thù…). Chúng ta mong họ khỏe mạnh cả về thân và tâm. Đồng thời, mong họ hạnh
phúc nghĩa là mong họ thoát khỏi mọi trạng thái tâm bất an: lo lắng, sợ hãi, buồn
phiền, đau khổ.
Ở mức sâu hơn (dù điều này không nhất thiết xuất hiện ngay
trong giai đoạn đầu của thiền tâm từ), khi thực hành tâm từ ái (mettā), chúng
ta mong mọi người phát triển những nhân duyên dẫn đến hạnh phúc và an lành.
Điều này dựa trên giáo lý nghiệp (karma) của Đức Phật: hành động có chủ ý của
chúng ta có khả năng tạo ra kết quả tương ứng với tính chất đạo đức của hành động
đó. Hành động bất thiện (tham lam, ích kỷ, sân hận, kiêu mạn, tà kiến, si mê)
dù có thể mang lại quyền lực, giàu sang, thành công ngay lập tức, nhưng đang tạo
nhân cho khổ đau trong tương lai. Vì vậy, chúng ta không mong người khác hưởng
hạnh phúc từ những hành động bất thiện như vậy. Thay vào đó, chúng ta mong họ tạo
ra nhân duyên thiện lành cho hạnh phúc chân thật trong tương lai: thực hành bố
thí, tâm từ ái, tâm bi mẫn và trí tuệ.
Tóm lại, khi mong cho người khác được an lành và hạnh phúc, ở
một mức độ, chúng ta mong họ có sự an vui hiện tại; ở mức sâu hơn, chúng ta
mong họ tạo ra những nhân duyên thiện lành cho hạnh phúc và an lành trong tương
lai.
2) Phân biệt tâm từ ái (loving-kindness) và tâm nhẫn nhục (patience)
Tâm từ ái (Loving-kindness) có mối liên hệ mật thiết với một
phẩm chất khác được đánh giá rất cao trong Phật giáo, đó là tâm nhẫn nhục
(patience). Tuy nhiên, giữa hai phẩm chất này có sự khác biệt tinh tế. Cả
hai đều là phương thuốc đối trị sân hận và ác ý, nhưng chúng hoạt động theo những
cách khác nhau.
- Tâm nhẫn nhục (patience) là sự thực hành kiềm chế. Khi cơn giận bắt đầu khởi lên, ta kìm lại, ngăn không cho nó phát triển và bộc lộ ra ngoài. Nhẫn nhục hướng vào bên trong, đối trị khuynh hướng sân hận, ý muốn gây hại, trả đũa người làm hại ta. Đây là phẩm chất rất quan trọng vì trong đời sống, người khác có thể nói năng thô lỗ, hành động ác ý, và phản ứng tự nhiên của ta là trả đũa. Nhẫn nhục giúp ta ngăn chặn điều đó.
- Tâm từ ái (Loving-kindness) thì tích cực và chủ động hơn. Đó là ước muốn mạnh mẽ cho hạnh phúc và an lành của người khác, và tìm cách thúc đẩy điều đó. Tâm từ hướng ra bên ngoài, mong đem lại lợi ích cho người khác, trong khi nhẫn nhục hướng vào trong, nhằm kiểm soát và chế ngự sân hận.
1) Trí tuệ (Wisdom) – phẩm chất của tâm, nhấn mạnh bởi Đức Phật. Trí tuệ là sự hiểu biết sâu sắc, chính xác về bản chất thực của các pháp (các hiện tượng). Khi phát triển, trí tuệ trở thành tuệ giác (insight), tức là thấy rõ sự thật về duyên khởi, mọi hiện tượng phát sinh qua nhân duyên, vô thường. Qua quán sát thân tâm, thấy các hiện tượng sinh – diệt, từ đó phá chấp ngã và đoạn trừ tham ái, chấp thủ. Trí tuệ là yếu tố đưa đến giải thoát.
2) Các phẩm chất của trái tim (virtues of the heart) – đối trọng với trí tuệ. Trong truyền thống Phật giáo, có bốn phẩm chất được gọi là Bốn Tâm Vô Lượng (Brahmavihāra), nghĩa là “bốn chỗ trú ngụ của Phạm thiên” hay “bốn tâm vô lượng” hay "bốn phẩm chất cao quý", vì chúng được thực hành và phát triển vô lượng vô biên đối với tất cả chúng sinh. Bốn phẩm chất này tạo nên một tâm hồn đẹp, một nhân cách đạo đức cao quý.
Tâm Từ là nền tảng để phát triển một nhân cách đạo đức đẹp, những phẩm chất
cao quý của trái tim. Tâm Từ là ước muốn mạnh mẽ, sâu sắc cho sự an lành và hạnh
phúc của bản thân và người khác.
4.2) Karuṇā hay Tâm Bi (Compassion)
Khi nhìn ra thế giới, ta thấy vô số người và chúng sinh đang
chịu khổ đau. Khi trái tim tràn đầy lòng từ và chứng kiến sự khổ đau ấy, phản ứng
tự nhiên là lòng bi mẫn (Karuṇā) khởi sinh. Đây là phẩm chất thứ hai – Tâm
Bi, được mô tả là sự rung động của trái tim trước nỗi khổ của người khác.
Khi Tâm Bi trở thành thói quen, nó biểu hiện qua hành động nhằm giảm bớt khổ
đau cho người khác.
4.3) Muditā hay Tâm Hỷ (Altruistic joy)
Tuy nhiên, nếu chỉ thực hành tâm bi, thường xuyên tiếp xúc với
khổ đau, tâm có thể bị kéo xuống, dễ mệt mỏi. Vì vậy, cần có sự cân bằng, giống
như nêm gia vị khi nấu ăn. Sự cân bằng cho tâm bi là Muditā – Tâm Hỷ,
tức là hoan hỷ trước thành công, may mắn và phẩm chất tốt đẹp của người khác.
Thay vì ganh tỵ, cạnh tranh, ta vui mừng khi thấy người khác thành công, có đức
hạnh. Điều này nâng tâm lên, đem lại niềm vui sâu sắc.
4.4) Upekkhā hay Tâm Xả (Equanimity)
Phẩm chất thứ tư là Upekkhā – Tâm Xả (Equanimity).
Có hai cách hiểu:
- Bình
đẳng, không thiên vị: Nhìn mọi người như nhau, không phân biệt yêu
ghét, chủng tộc, tôn giáo.
- Buông
xả, không chấp trước: Khi đã cố gắng giúp đỡ nhưng không thể thay đổi
tình huống, ta chấp nhận kết quả với tâm quân bình, tâm không dính mắc.
Bốn phẩm chất này kết hợp hài hòa để tạo nên một trái tim đẹp, một nhân cách đạo đức cao quý. Gốc rễ của cả bốn Tâm Vô Lượng là Tâm Từ, vì vậy ta bắt đầu bằng việc phát triển tâm từ, rồi tiếp tục nuôi dưỡng Tâm Bi, Tâm Hỷ và Tâm Xả.
5) Lợi ích của việc thực hành tâm từ (Loving-kindness)
Một trong những lợi ích của việc thực hành tâm từ là phương thuốc
đối trị sân hận và oán ghét. Người thường xuyên giận dữ, đầy hận thù, điều đó
thậm chí ảnh hưởng đến sinh lý và nét mặt. Khi nhìn một người hay sân hận, dù
không quen, bạn vẫn thấy nét mặt họ hằn lên sự giận dữ, khiến họ trông dữ tợn,
đáng sợ.
Ngược lại, người thường xuyên thực hành tâm từ, nét mặt sẽ thay đổi: trở nên mềm
mại, hiền hòa, an tịnh, rạng rỡ, đẹp đẽ. Kinh điển Phật giáo cũng đề cập rằng
khi phát triển tâm từ, dung mạo trở nên xinh đẹp, rạng rỡ, thanh thản, an lạc – điều này khiến người
khác cảm thấy bị thu hút.
Ngoài ra, không chỉ là nét mặt, mà còn là “tần số rung động”
mà một người phát ra qua tâm tính. Người đầy sân hận thường khiến người khác cảm
thấy sợ hãi, nghi ngờ, không muốn gần gũi. Người như vậy thường ít bạn bè (trừ
khi giàu có, thì người khác kết thân vì lợi dụng).
Ngược lại, người thường xuyên thực hành tâm từ sẽ phát ra năng lượng tích cực,
khiến người khác cảm thấy dễ chịu, theo thời gian, họ muốn trở thành bạn bè, cộng sự, người dõi theo, thậm chí trở thành học
trò.
Câu hỏi: Có lý do chính đáng nào để nổi giận không?
Tỳ khưu Bodhi phân biệt hai loại:
- Cơn
giận ám ảnh (obsessive anger): Là cảm xúc bùng phát, chiếm quyền kiểm
soát tâm, dẫn đến hành vi bạo lực, lời nói thô bạo. Loại giận này phản tác
dụng, ngay cả khi bạn đấu tranh cho một mục tiêu tốt đẹp (hòa bình, công bằng
xã hội, bảo vệ môi trường).
- Phẫn
nộ đạo đức (moral indignation): Là sức mạnh nội tâm khi thấy điều sai
trái, bất công, muốn đứng lên bảo vệ lẽ phải. Loại này không bạo lực,
không mất kiểm soát, mà được thúc đẩy bởi tâm từ ái và tâm bi mẫn, với mục tiêu
giảm khổ đau cho người khác.
Một người có thể hành động mạnh mẽ vì công lý, hòa bình, bảo vệ môi trường… nhưng nên làm với tâm từ ái và tâm bi mẫn, không để cơn giận chi phối.
6) Phương pháp để phát triển tâm từ (loving-kindness)
Trong Phật giáo, chúng ta có một phương pháp có hệ thống
để phát triển tâm từ (loving-kindness).
Chúng ta sử dụng tâm từ như một phương pháp thiền. Việc phát triển tâm từ được
thực hiện theo cách tuần tự, có phương pháp, gần như một bài tập cơ học, giống
như một bài tập quân sự hoặc hướng dẫn lập trình phần mềm. Điều này là cần thiết
để nuôi dưỡng tâm từ thực sự như một phẩm chất của trái tim.
Trong thực hành thiền tâm từ, có hai thành phần chính:
- Đối tượng (Recipients) – những người nhận tâm từ.
- Công thức (Formula) – các câu niệm dùng để phát triển tâm từ.
1. Đối tượng của tâm từ
Chúng ta mở rộng tâm từ theo những vòng tròn lan rộng dần:
- Bắt
đầu từ chính mình: Chính mình là đối tượng đầu tiên.
- Người
thân yêu: Gia đình, bạn bè thân thiết.
- Người
quen: Hàng xóm, đồng nghiệp, người quen biết.
- Người
xa lạ: Người không quen, rồi mở rộng đến tất cả con người, động vật,
và cuối cùng là tất cả chúng sinh.
2. Công thức thực hành tâm từ
Sử dụng các câu niệm (dựa trên Kinh Tâm Từ và chú giải), ví dụ:
- Mong
cho mọi chúng sinh được an lành (khỏe mạnh cả thân và tâm).
- Mong
cho mọi chúng sinh được hạnh phúc (hạnh phúc sâu sắc, bền vững).
- Mong
cho mọi chúng sinh được an toàn (khỏi mọi nguy hiểm và tổn hại).
- Mong
cho mọi chúng sinh hoàn thành các mục tiêu tốt đẹp của mình trong cuộc sống, và có một cuộc sống trọn vẹn và ý nghĩa.
Từ ‘tâm từ giả’ đến ‘tâm từ chân thật
Ban đầu, khi thực hành với người xa lạ, ta có thể không cảm nhận được gì. Đây gọi là ‘tâm từ giả’– chỉ ghi nhớ và lặp lại câu niệm. Nhưng với sự kiên nhẫn, bền bỉ, thực hành đều đặn, dần dần sẽ xuất hiện sự rung động và ấm áp của tâm từ, rồi phát triển thành ‘tâm từ chân thật’, rộng lớn, vô lượng vô biên, bao trùm tất cả chúng sinh.
Khi chúng ta mở rộng tâm từ vượt ra ngoài bản thân và những người thân yêu, việc phát triển tâm từ có thể trở nên khó khăn. Nhưng cần phân biệt giữa ‘tâm từ giả’ và ‘tâm từ chân thật’. Chúng ta phải bắt đầu từ mức độ tâm từ giả, nghĩa là sử dụng các câu niệm và công thức để cố gắng khơi dậy cảm giác từ ái. Ban đầu, có thể chúng ta chưa cảm nhận được gì. Đây là lúc cần đến sự kiên nhẫn, bền bỉ và thực hành đều đặn. Bởi vì khi bạn thực hành kiên trì, lặp lại các câu niệm, đến một lúc nào đó, ngay cả khi hướng tâm đến những người xa lạ, bạn sẽ bất ngờ cảm nhận một tia ấm áp, một chút rung động của tâm từ đối với họ. Từ đó, bạn có thể bắt đầu nuôi dưỡng, làm sâu sắc và mở rộng cảm giác ấy. Và theo cách đó, bạn dần dần học được cách phát triển một tâm từ bao la, vô lượng vô biên, ôm trọn tất cả chúng sinh.
No comments:
Post a Comment